Chuyện ít biết về chuyến đi của vua Bảo Đại đến Gia Lai

  • Thứ tư, 01/03/2017, 15:50 GMT+7
  • 0 bình luận
  • 175

Chuyện ít biết về chuyến đi của vua Bảo Đại đến Gia Lai

(GLO)- Ngày 13 tháng Giêng năm Quý Dậu (năm Bảo Đại thứ 8), tức ngày 7-2-1933, Ngự tiền văn phòng triều đình Huế ra Dụ (lược trích): “Tuần hạnh là không phải đi chơi, chính là đi xem xét. Trẫm lên nối ngôi cao… Nay nhân tiết xuân, khí trời ấm áp, định đến hạ tuần tháng này đi vào các tỉnh đạo Gia Lai, Kon Tum, Ban Mê Thuột, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai Thượng. Hành trình nhật ký sẽ do Cơ mật thương đồng quý tòa lục ra cho biết…”.
 

  Thu hoạch chè ở Nông trường chè Bàu Cạn.  Ảnh: Đ.T
Thu hoạch chè ở Nông trường chè Bàu Cạn.

Đúng 1 tuần sau, ngày 20 tháng Giêng (14-2), lễ xuất phát tại kinh thành Huế: “Sáng 8 giờ 15, Ngài ngự ra ngồi tại điện Cần Chánh, quan Hộ giá đại thần và quan Lưu kinh đại thần làm lễ bái mạng, vái ba vái, rồi ông Hoàng thân và các quan đại thần Cơ mật, Tôn nhân, với văn võ đình thần đều mặc triều phục vào chầu thỉnh an và tống giá. 8 giờ rưỡi quan Khâm sứ qua chầu. Ngài ngự ra cửa Đại Cung Môn lên xe khải loan. Trên kỳ đài bắn bảy phát lịnh. Các quan tùng giá theo thứ tự đã sắp đặt đều lên xe đi theo. Buổi mai ấy tạnh ráo, không nắng không mưa, khí trời ấm áp, dễ chịu”.

Nhà vua đi lướt qua Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định (đã kinh lý trước đấy rồi, trong đó có Phú Yên), đến đêm hôm ấy nghỉ lại Bình Định. Sáng hôm sau, tại ngã ba giao lộ đường 1 với đường 19, công sứ Bình Định Thibaudeau và tổng đốc Bình Định Ưng Bàng đến chầu tống tiễn nhà vua đi lên miền thượng du.

Bài tường thuật “Ngự giá Nam tuần hành trình ký” (Ghi chép chuyến tuần du phương Nam của Hoàng đế Bảo Đại) của “Cơ mật thương đồng quý tòa” ký tên Song Cử, in trên Nam phong tạp chí phát hành năm 1933 viết rất chi tiết về chuyến đi. Ở đây chỉ xin lược trích một số đoạn khi nhà vua đến “đạo” Gia Lai. (Lúc bấy giờ chính quyền Nam triều gọi các tỉnh miền thượng du là “đạo”).

Qua hết đất Bình Định, lúc 7 giờ 25 phút, đoàn xa giá (15 người, 10 xe) leo đèo An Khê (đèo Lòng Mang, Col dAn Khê). Đèo này là ranh giới giữa tỉnh Bình Định với tỉnh Kon Tum (lúc này toàn bộ An Khê cũ thuộc Kon Tum, sau này mới nhập về Gia Lai). Thế cho nên khi nhà vua đến giữa đèo đã có quan công sứ Kon Tum Guilleminet và quan quản đạo Kon Tum Tôn Thất Toại nghinh giá, có dẫn theo học trò cầm cờ Long tinh đứng chầu hai bên đường. Nhà vua dừng thăm đồn An Khê. Tại đây, bà con đồng bào dân tộc thiểu số bản địa được tổ chức đón chào nhà vua với dàn cồng chiêng và các loại nhạc cụ truyền thống khác. Đã quen nghe nhã nhạc cung đình réo rắt nỉ non, lần đầu tiên nhà vua và đoàn tùy tùng bắt gặp một sự kiện “lạ mắt, lạ tai” trong một “thế giới âm nhạc” khác, nên bài tường thuật dành hẳn một đoạn dài miêu tả nét đặc trưng này, mà cụ thể là chiếc đàn trưng: “Hai bên cửa đồn có chừng 150 người Thượng sắp hàng đánh nhạc, nào cồng nào trống ầm ĩ vang rừng… Nhạc khí của họ có một cái đờn tuy tầm thường, đơn giản mà cũng nên cho là đặc sắc. Đờn này làm bằng ống nứa, hình tam giác như cách xylophone của Âu Châu. Cả thảy 15 ống, ống dài nhất phỏng chừng 1 mét 30, rồi ngắn lần xuống đến ống ngắn nhất chừng 0 mét 25. Ống nứa vạt đi một nửa, dùng dây tre mà cột lại với nhau, lấy hai cái dùi mà đánh, mỗi ống tiếng khác nhau, mà tiếng kêu trong như tiếng đồng chớ không phải đục như tiếng mõ tre. Hoàng đế ngự lãm với quan Khâm sứ, ban khen là một cái nhạc khí đơn giản mà hay!... So với nhạc khí ngày nay thời đàn piano tinh xảo hơn hết, mà ai biết đâu là ngày xưa có phải nhân theo nhạc khí đơn giản như cái đờn nứa này mà chế ra chăng?”!

Quả là một miêu tả rất rõ ràng, một cảm nhận rất tinh tế, một khen tặng rất chí lý, một liên tưởng vô cùng bất ngờ và thú vị khi cho rằng đàn piano sang trọng của Tây “biết đâu” đã từng được cảm hứng từ đàn trưng này mà chế tác ra!

Nhà vua ghé qua Sở Súc mục, nơi nuôi lai các giống bò, ngựa, trâu… Đến 9 giờ 15 phút qua đèo Mang Yang. Ở đây, bài tường thuật lại “đặc tả” một sản vật của miền thượng du này: “Dọc đường rừng tre rất nhiều, giống tre này không to lắm, thổ dân kêu là cây le, thường cắt măng mà ăn, kêu là măng le, hoặc phơi khô đem xuống bán tại Bình Định, cũng có tiếng như măng cày ở Quảng Bình. Ấy cũng là một thứ sản vật có lợi cho dân”.

Hết địa phận An Khê, đến địa đầu Gia Lai, quan công sứ  Gia Lai Jeannin và quan quản đạo Gia Lai Tôn Thất Cổn nghinh giá. Nhà vua dừng thăm đồn điền ông Genaud và khu dân cư người Kinh. Cách Gia Lai chừng 10 cây số đã thấy hai bên đường dân chúng đứng dọc dài đón chào.

10 giờ 40 phút đến Pleiku. Pleiku lúc bấy giờ được miêu tả: “Đạo Gia Lai vừa mới đặt ra rừ tháng 11 năm Bảo Đại thứ 7 (12-1932) chưa dựng hành cung, mà cũng chưa làm dinh thự chi cả. Hoàng thượng trú tất tại Tòa sứ. Bộ tộc Djarai và Bahnar về chầu nghinh giá ước nghìn người, đem rượu ghè và trứng gà về dâng”. Và việc tiếp đón diễn ra tại một nơi được thiết làm hành cung tạm: “11 giờ 30 thiết triều bái khánh dâng hạ biểu tại nơi hành cung tạm, trần thiết cũng chỉnh nhã. Quan quản đạo phụng tuyên hạ biểu, quan công sứ đọc lời chúc tụng. Hoàng thượng đáp từ xong ban thưởng huy chương. 12 giờ ngự thiện tại Tòa sứ”.

14 giờ 45 phút, nhà vua dự xem cuộc đua ngựa của đồng bào bản địa: “Có hơn trăm con ngựa, chỉ dây cương lơ thơ, không yên không lạc. Người thời đóng khố, không áo, nỏ quần, chân thúc tay roi, cùng nhau tranh thắng, bay nhảy giữa vùng đất bột, bụi lên nghi ngút, nhiều người đắc ý như muốn tỏ cái tài thiện kỵ”. Sau đó là tham quan sở chè “CATECKA”-tục gọi Bầu Cạn, rồi tham quan sở SAPKO - tục gọi là Đất Bệt. Trên đường lên Kon Tum, lúc 17 giờ 40 phút, nhà vua ghé thăm sở STI, tục gọi “Biển Hồ chè”. Sở cho hai cô gái ăn mặc chỉnh tề bưng khay chè quý dâng nhà vua để làm kỷ niệm và tặng các quan tùy tùng. Rời sở chè STI, nhà vua thẳng đường lên Kon Tum, lúc này trời đã vào đêm.

Như vậy, đạo Gia Lai sau khi thành lập vừa được 2 tháng (từ tháng 12-1932 đến tháng 2-1933) thì lần đầu tiên (và cũng là duy nhất) có vị hoàng đế cuối cùng của thời phong kiến Việt Nam đặt chân “tuần du” đến.

Sau năm Quý Dậu ấy đúng một giáp (12 năm), vào năm Ất Dậu 1945, vị hoàng đế cuối cùng này đã trở thành “cựu hoàng” trong cuộc thoái vị lịch sử.

Năm Dậu này (Đinh Dậu), nhân chẵn 20 năm cựu hoàng Bảo Đại qua đời (1997-2017), xin nhắc lại chút tư liệu cũ như một cách “ôn cố tri tân” vậy.

Tạ Văn Sỹ

TAG:

Ý kiến của bạn