Nhớ căn cứ địa cách mạng Krong năm xưa

  • Thứ năm, 17/05/2018, 08:15 GMT+7
  • 0 bình luận
  • 25

(GLO)- Có lẽ mỗi cán bộ, chiến sĩ kháng chiến ở Gia Lai ai cũng ít nhất một lần qua vùng căn cứ này, vì nó nằm trên giao điểm đường hành lang chiến lược Bắc-Nam và đường giao liên Đông-Tây ở phần Đông Bắc tỉnh Gia Lai. Nhắc lại vùng đất này, ai cũng có ấn tượng đẹp về tinh thần kiên cường chống giặc bảo vệ căn cứ, về tình quân dân mật thiết.

Căn cứ cách mạng Khu 10 (xã Krong, huyện Kbang hiện nay) vốn là căn cứ địa liên hoàn của 3 huyện Đông Bắc Gia Lai từ thời kháng chiến chống Pháp. Căn cứ liên hoàn này gồm 3 xã: Lơpà (huyện Pleikon); Hơnơng (huyện Nam Kon Plông); Bơnâm và một phần xã Nam (huyện An Khê). Địa hình núi cao rừng rậm, sông suối chia cắt. Ba mặt Đông, Tây và Bắc dựa vào thế núi; mặt phía Nam tiếp giáp vùng trũng An Khê, tiến có thể đánh địch, lui có thể đứng chân yên ổn dưỡng quân, luyện quân. Nơi đây có khí hậu nhiệt đới ẩm mát, cư dân hầu hết là dân tộc Bahnar-Bơnâm, tính tình thuần phúc, cần cù lao động, tuy trình độ kinh tế-xã hội còn thấp nhưng lại sớm chịu ảnh hưởng cuộc khởi nghĩa Tây Sơn (giai đoạn 1771-1773).

 

Ảnh internet
Ảnh internet

Tiếp đó, trong cuộc chiến đấu lâu dài chống các cuộc hành quân chinh phục của Pháp, nhân dân đều bất hợp tác với giặc, nhiều làng đến trước 1945 vẫn còn nằm ngoài vòng kiểm soát của địch. Vì vậy, đây trở thành nơi lý tưởng để 3 huyện Đông Bắc Gia Lai lập căn cứ ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Vùng này trở thành hành lang giao liên, hành lang tiếp tế, tiến quân của các đội vũ trang tuyên truyền, các đội vũ trang công tác từ đồng bằng tiến lên vùng Bắc Pleiku và Tây Bắc đường 14, mở rộng cơ sở. Từ năm 1950 đến 1954, đây là địa bàn đứng chân của các đơn vị quân chủ lực để tiến đánh địch trong các chiến dịch An Khê và Nam Bắc đường 19.

Từ sau cách mạng tháng 8-1945, cán bộ ta có mặt tại vùng này, vận động giác ngộ nhân dân, tập hợp vào các tổ chức quần chúng của “Hội đánh Tây” (Mặt trận Việt Minh). Các chi bộ Đảng đầu tiên được hình thành, từ chi bộ Bơnâm (tháng 3-1949) đến chi bộ Hơnơng (tháng 5-1949) và chi bộ xã Lơpà. Chính quyền và lực lượng bán vũ trang thôn, xã được thành lập, các làng kháng chiến được xây dựng như: Stơr, Kon Klung, Hơnơng, Đê Batuk...

Sau ký kết Hiệp định đình chiến Genève, trong lúc còn bận rộn việc chuyển quân tập kết, lo bố trí cán bộ ở lại miền Nam công tác, Tỉnh ủy đã đặt ngay vấn đề xây dựng căn cứ địa cách mạng. Tỉnh ủy phân công 2 đồng chí Nguyễn Thanh Bình và Trịnh Văn Cư cùng một số cán bộ địa phương về lại căn cứ cũ 3 huyện để xây dựng cơ sở chính trị bí mật, chuẩn bị hậu cần lâu dài, tổ chức giao liên nối cơ quan lãnh đạo tỉnh với các huyện và thông suốt với Trung ương.

Ngày 20-4-1955, cơ quan Tỉnh ủy cùng liên Tỉnh ủy 4 chuyển từ huyện Vĩnh Thạnh (tỉnh Bình Định) lên phía Nam, tạm đứng chân tại làng Đê Mông, sau chuyển về Đê Bam xã Đê Sơró (Khu 7). Đến cuối năm 1955 thì chuyển lên phía Bắc, đóng tại làng Klêch (Kalach) xã Bơnâm, nằm trong khu căn cứ 3 xã: Lơpà, Hơnơng và Bơnâm. Từ năm 1956 về sau, cơ quan Tỉnh ủy luôn di chuyển quanh các làng có cơ sở thật vững chắc để đảm bảo an toàn và phù hợp sự chỉ đạo từng thời điểm. Đến ngày 28-2-1962, khu căn cứ tỉnh chính thức thành lập, có Ban chỉ đạo xây dựng căn cứ trong phạm vi 26 làng của 3 xã nói trên. Đầu năm 1964, khu căn cứ tỉnh đổi tên là Khu 10, có Ban Cán sự Đảng khu lãnh đạo.

Lúc đầu, cơ quan Tỉnh ủy còn rất gọn nhẹ (8-10 người). Sau đó, phong trào phát triển, nhất là khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời (1960), tiếp đến khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành lập thì các ban ngành tỉnh cũng hình thành. Ngoài các cơ quan chủ chốt như: Tỉnh ủy, chính quyền giải phóng, Mặt trận, ban quân sự thì còn có các ban chuyên môn kinh tế tài chính, văn hóa, giáo dục, y tế... Trong khó khăn gian khổ, đối phó với biện pháp chiến tranh hủy diệt của địch, cán bộ cơ quan đã cùng quân và dân đoàn kết gắn bó để tồn tại chiến đấu chống giặc, giữ vững căn cứ. Cán bộ, đảng viên luôn thương yêu, quý trọng dân, dựa vào dân, giác ngộ chính trị, chăm lo nâng cao đời sống của dân trên tất cả các mặt vật chất và tinh thần với yêu cầu mức sống của dân vùng căn cứ phải cao hơn so với dân vùng địch kiểm soát. Tổ chức Đảng còn chú trọng xây dựng thực lực chính trị quân sự, kinh tế vững mạnh để tạo cơ sở thực chất cho khu dân cư.

Nhân dân vùng căn cứ hết lòng tin yêu, che chở, bảo vệ và nuôi dưỡng cán bộ, coi cán bộ là “vốn quý của cách mạng”. Dân vùng căn cứ vừa đánh giặc vừa tranh thủ ngày đêm sản xuất dưới bom đạn, phi pháo thường xuyên, từ căn cứ An Khê rót vào. Địch nhiều lần đánh sâu vào căn cứ, cả dùng B52 thả bom, tàn phá tất cả nhằm triệt nguồn sống của quân dân vùng căn cứ nhưng nhiều lần thất bại. Điển hình là “cuộc đọ sức đầu tiên của quân dân khu căn cứ với quân đội Mỹ” chống cuộc càn quét 5 tiểu đoàn Mỹ, 1 tiểu đoàn ngụy phối hợp đánh vào Khu 10, Khu 1, 2 kéo dài 20 ngày (từ 28-4 đến 17-5-1966), tiêu diệt nhiều sinh lực và khí tài của địch. Tháng 8-1967, du kích khu căn cứ lại quần nhau với địch suốt 14 ngày, làm địch thất bại phải rút lui. Lực lượng an ninh khu căn cứ luôn cảnh giác với do thám, biệt kích địch đột nhập, từ đó đảm bảo an toàn cho nhiều cơ quan, kho tàng trong căn cứ.

Với tinh thần tất cả cho cách mạng, dân còn đóng góp lương thực nghĩa vụ và bán lương thực cho chính quyền cách mạng đạt, vượt yêu cầu, dù dân số vùng căn cứ rất ít. Nặng nhất là dân công chiến trường, vận chuyển, gùi cõng vũ khí, hàng hóa cho quân đội, vận chuyển thương-bệnh binh ra Bắc chữa trị, bỏ công vào việc bảo vệ hành lang Bắc-Nam. Thành tích của quân dân căn cứ vô cùng lớn lao, nhưng không thể quên hình ảnh “thị trấn Dân Chủ”, ý tưởng đầu tiên của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Trần Văn Bình (tên gọi khác là Đẳng) đề xuất. Tại khu vực được chọn xây dựng, quân dân căn cứ đã khởi công mở 250 m đường, xây dựng một số nhà ở cho dân và cơ quan. Ngày 1-5-1973, “thị trấn Dân Chủ” hình thành với 70 căn nhà tranh dưới tán rừng già, có đồn Công an, trường cấp I, cửa hàng mậu dịch, trạm xá, nhà sinh hoạt cộng đồng, sân bóng chuyền, thể thao, hiệu may, hàng quán bán nhu yếu phẩm, lò rèn sản xuất và bán nông cụ. Ban đêm có đèn “măng sông”, hội họp có điện máy nổ, có biểu diễn văn nghệ và chiếu phim. “Thị trấn Dân Chủ” ra đời bước đầu đã tạo nên một điểm sinh hoạt chính trị-kinh tế-văn hóa tươi vui cho nhân dân vùng căn cứ và khách vãng lai.

Thành công trong 20 năm xây dựng căn cứ Krong là một bài học lớn, bài học cơ bản đầu tiên về tình đoàn kết quân dân, về mối quan hệ mật thiết giữa cán bộ, đảng viên với quần chúng trong thời chiến cũng như thời bình xây dựng đất nước hôm nay.

Hiện khu căn cứ còn giữ được một căn hầm, nơi làm việc và trú ẩn của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Trần Văn Bình vào những năm cuối đời. Di tích này được xếp hạng là Di tích Lịch sử-Văn hóa cấp tỉnh và đã được trùng tu tôn tạo, cắm bia để ghi mốc địa chỉ lịch sử vẻ vang của khu căn cứ địa cũ.

Đỗ Hằng

TAG:

Ý kiến của bạn